Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Thế hệ, ý hệ và vấn đề thực hiện phê bình văn tin tức học

Các nhà phê bình trẻ khác với đời đi trước đang cùng tham dự vào đời sống văn học đầu tiên ở thực tiễn sơn hà trong giai đoạn trưởng thành tính cách: họ không bị/được trải nghiệm chiến tranh, kinh nghiệm quá vãng như một gia tài luôn bị cật vấn bởi sự bác tạp ngày càng nhiều hơn của các thông báo ngoài căn bản học đường, giao lưu văn hóa quốc tế rộng mở và nhất là internet dù chưa khiến họ trở nên “công dân thế giới” nhưng đã đưa họ tham gia vào không gian khu vực và quốc tế. Sự dị biệt trong kinh nghiệm đời sống và thẩm mỹ, theo đó, làm thành sự dị biệt trong tinh thần của họ về văn học và cuộc đời. Đối mặt với thực tế phân hóa, họ kiến tạo bản sắc của mình, và chính bản sắc được kiến tạo này sau đó quay lại đòi giải mã thực tại phân hóa làm sản sinh ra nó. Văn chương trở thành câu chuyện cho các tái khám phá của họ. Phê bình theo đó, không là chiến trường, không định hướng, không phán xét, mà là hành vi đồng sáng tạo. Cũng theo đó, phê bình không là một phương tiện, một thiên chức, một nghề nghiệp, mà là một phương thức tham dự vào cuộc thế. Như là sản phẩm của một hoàn cảnh văn hóa mới, nên không phải ngẫu nhiên mà nghiên cứu văn học từ văn hóa đã trở nên một chọn lựa của họ, tác động trực tiếp đến các thực hiện phê bình, làm thành biểu thị khác biệt rõ rệt nhất trong tương quan với phê bình của các đời trước.

Những thay đổi trong thực hiện phê bình trình diễn.# Một ý hướng, quan niệm, thao tác khác hẳn trước, phát sinh từ sự phản tư truyền thống phê bình của phê bình trẻ. Dù chínhlắp truyền hình cáp và internetở chỗ này, và gần như là điều duy nhất, phê bình trẻ tập truyền thế hệ đi trước, dẫu là một học tập để vượt qua. Phổ biến lý luận phương Tây và vận dụng trong phê bình, thành tựu lớn nhất của phê bình thời đổi mới, trở thành một bước đi cần thiết nhưng nhanh chóng trở nên xơ cứng bởi thuộc tính minh chứng cho mô hình hoặc cắt xén thực tế cho hợp với mô hình được áp dụng ấy. Thuộc tính xơ cứng của mô hình “lý luận và vận dụng” khuyến dụng những phê bình trường hợp mang tính tiêu biểu hóa đã triệt tiêu những phê bình trường hợp mang tính đại diện, nơi ghi nhận dấu ấn tương xứng hoặc khả năng phê phán mô hình bởi tính địa phương khác biệt của đối tượng nghiên cứu như một bổ khuyết cho lý thuyết, tạo nên tính năng sản của nó. Chính từ đây, sự tiếp biến các lý thuyết phê bình văn chương mới và việc chọn lựa các đối tượng nghiên cứu mới làm thành sự khác biệt của phê bình trẻ, duyên cớ của các bất đồng ngôn ngữ phê bình khi một bộ phận của đời phê bình đi trước mang ý kiến gia trưởng để phán xét nó.

Sự tiếp biến các lý thuyết phê bình văn học mới và việc chọn lọc các đối tượng nghiên cứu mới làm thành sự dị biệt của phê bình trẻ, duyên cớ của các bất đồng ngôn ngữ phê bình khi một bộ phận của thế hệ phê bình đi trước mang ý kiến gia trưởng để phán xét nó.
Những phản ứng gần đây của một số nhà phê bình về việc du nhập các lý thuyết mới, như những lý thuyết phi marxist, những lý thuyết hiện đại phản tư nhất thể hóa và hợp thức hóa quyền lực và kiến thức, những lý thuyết khẳng định vị thế và sự can thiệp của trí thức đối với xã hội và nhà nước - dân tộc,… đặt ra một số vấn đề ý hệ đáng để ý. Tại sao đẵn những ngôn ngữ lên án lại phát xuất từ thế hệ phê bình không trẻ? Tại sao một số vấn đề mang tính toàn cầu lại được cho là không xuất hiện ở Việt Nam? vì sao lại khước từ một số lý thuyết như là một thành quả của tư duy loài người, giúp loài người hiểu sâu sắc hơn thực tại và chính bản thân?... Có một thực tiễn là, có một bộ phận không nhỏ các nhà phê bình đã không tư duy cùng với sự phát triển. Quan điểm gia trưởng khiến họ áp đặt cái nhìn của bản thân cho các thực hành phê bình khác, từ khuyên nhủ, đến chối từ, thậm chí phủ nhận, lên án và quy chụp. Vẫn biết, thiết chế luôn chọn lựa kiến thức hợp lệ cho nó, nhưng không cho nên mà được áp đặt và/hoặc triệt tiêu các kiến thức khác.

Như một hệ quả của việc thực hiện phê bình từ các điểm nhìn mới, đối tượng của phê bình cũng trở nên đa dạng hơn. Ở đây phê bình trẻ nối mắc vào vấn nạn của các lên án về chọn lọc đối tượng. Tại sao lại có việc khoanh vùng đối tượng? vì sao đối tượng này xứng đáng phê bình hơn đối tượng kia? Ngay ở nhận thức này, phê bình cũng mang tính gia trưởng, ở sự áp đặt và sự tự phụ tự đại của nó. Phê bình luôn là cuộc thăm dò cái lý của sự tồn tại chứ không phải chỉ ra cái tồn tại hợp lý. Bởi nó không thể xác quyết câu giải đáp hợp lý với ai, ai có quyền quyết định tồn tại ấy là hợp lý, cho ai và vì ai?

Một nền phê bình lành mạnh là một nền phê bình thúc đẩy sự phát triển của tư duy văn chương. Muốn thúc đẩy được tư duy, ngoài việc theo đuổi sự vận động của mỹ học, nhà phê bình ở mỗi thế hệ đều phải cố kỉnh kiến lập một ngôn ngữ chung, bởi ngôn ngữ nào thì tư duy ấy, tư duy nào thì soi chiếu ý hệ ấy. Bất đồng tiếng nói thì chẳng thể đối thoại, biết ngôn ngữ khác mà cố ý lờ đi thì đối thoại bất thành, hoặc chỉ có áp đặt mà không có hội thoại. Một nền phê bình không có đối thoại là một nền phê bình bảo thủ. Một nền phê bình không hài lòng những tiếng nói khác, những suy tư và thực hiện phê bình khác là một nền phê bình độc đoán. Sờ soạng cho thấy ý kiến gia trưởng trong phê bình, ở cả giác độ tư duy lẫn đời sống, báo hiệu cho nhiều sự xói mòn khác nữa, của công lý, luân lý và đạo đức. Một giang san có thể không cần trau dồi văn chương, như nền cộng hòa lý tưởng của Plato, nhưng không thể không cần xiển dương công lý, luân lý và đạo đức. Không tưởng thưởng công lý, luân lý và đạo đức, phê bình văn học sẽ hủy hoại vị thế và tương lai của nó.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét