Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

Nâng cao hệ thống chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công ý tưởng tại Việt Nam.

Thứ sáu  ,   đẩy mạnh phát triển thị trường trái khoán trong nước: trong đó, việc phát triển thị trường trái khoán sơ cấp cần được Chính phủ, Bộ Tài chính đặc biệt lưu tâm và ưu tiên hàng đầu

Nâng cao hệ thống chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công tại Việt Nam

Thứ bảy  ,   chú trọng công tác quản lý nợ chính quyền địa phương (CQĐP): hoàn thiện cơ chế huy động vốn vay và trả nợ vốn vay CQĐP; đa dạng hóa hình thức huy động vốn đầu tư phát triển: phát hành trái khoán CQĐP, BOT, BTO, BT, PPP…; tụ họp nguồn vốn đầu tư vào những công trình trọng điểm/cần kíp/có hiệu quả kinh tế cao, hoàn thành trong tuổi 2011 – 2015; không huy động thêm vốn để đầu tư các công trình mới/không thực thụ cấp bách.

Giải pháp nâng cao hệ thống chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ     Thứ nhất  ,   hoàn thiện thể chế chính sách và phương tiện quản lý nợ: đấu sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đối với nguồn vốn vay nợ. Thứ ba  ,   nâng cao hiệu quả huy động và dùng vốn vay: khắc phục bất hợp lý trong tổ chức huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý, trả nợ; Xây dựng chương trình đầu tư công trên cơ sở kiểm tra lại các chương trình đích.

Thứ tư  ,   kiểm soát chặt việc cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ: chỉ coi xét cấp bảo lãnh vay đối với các dự án cần kíp, các công trình trọng tâm quốc gia và đưa ra các biện pháp xử lý cụ thể đối với dự án gặp khó khăn trong việc trả nợ đến hạn.

Thứ hai,  đáp ứng đòi hỏi đối với công tác quản lý nợ theo đề nghị của Luật Quản lý nợ công. Nguồn: internet  Sự cần thiết giám sát an toàn nợ công   Thứ nhất,   giám sát nợ công phát xuất thực từ trạng các hoạt động giám sát nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia.

Bên cạnh đó, phải song song phát triển thị trường thứ cấp nhằm tăng cường tính thanh khoản và sáng tỏ của thị trường trái phiếu. Thứ tám  ,   đẩy mạnh cách tân thủ tục hành chính, đương đại hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động cơ quan quản lý nợ: đơn giản hóa thủ tục hành chính, công khai quy trình, vận hạn bổn phận xử lý các thủ tục hệ trọng đến thực hiện các chương trình/dự án sử dụng nguồn vốn vay; soát và loại bỏ những quy định về thủ tục xét duyệt không cấp thiết trong thông qua dự án, trình tự, thủ tục rút vốn.

Theo Kiểm toán Cuối tháng. Việc giám sát tình hình tuân của các chương trình/dự án, người vay, người được bảo lãnh vẫn còn nhiều khuyết thiếu như chơi phát hiện ra các sai phạm hay phát hiện không kịp thời do chưa có phần mềm để quản lý, rà soát, đánh giá rủi ro.

Cho tới nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu chung phục vụ công tác giám sát nợ.

Thứ năm  ,   tăng cường công tác giám sát và quản lý rủi ro về nợ công như: nghiên cứu, xây dựng và triển khai phương án xử lý rủi ro (chuyển đổi nợ thành viện trợ/đầu tư, mua bán nợ, hoán đổi nợ); đặc biệt thời kì vừa qua, Ngân hàng Nhà nước rất thành công trong việc hoán đổi nợ đối với trái phiếu Chính phủ nhằm tăng tính thanh khoản của thị trường trái phiếu trong nước.

Trong thời kì vừa qua, công tác giám sát nợ đã thực hiện một cách chủ động và hăng hái. Thứ ba,  hạp ý kiến và đích của Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia tuổi 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Thứ hai  ,   đấu hoàn thiện bộ máy cơ quan quản lý nợ, trong đó phân định rõ bổn phận của các cơ quan thực hành công tác giám sát nợ.

Thứ chín  ,   tăng cường hệ thống quản trị trong quản lý nợ công: tăng cường thực hành các chuẩn mực quốc tế về quản lý nợ công; tăng cường thông báo đối ngoại về nợ công của Việt Nam. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính tiếp chuyện xây dựng các công cụ quản lý nợ, từng bước hạp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều vấn đề tồn tại, đặc biệt là tính thủ công trong giám sát nợ.

Hiện, Bộ Tài chính vẫn chưa có các phần mềm chuyên biệt để xử lý công việc một cách tự động trong một số khâu cấp thiết. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng tiến hành phân loại nợ bị rủi ro tín dụng, ban hành tiêu chí đánh giá, xếp hạng về khả năng trả nợ của người vay lại, người được bảo lãnh để từ đó đưa ra các ứng xử hợp với từng đối tượng.

Bên cạnh đó vẫn chủ động trích lập, bố trí nguồn phòng ngừa để trả nợ. Trong thời kì qua, công tác giám sát nợ đã thực hành một cách chủ động và tích cực. Việc tự động hóa một số công đoạn trong quy trình giám sát vẫn đang ở thời đoạn khai triển bước đầu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét